Posted by: phanxine | March 4, 2009

Getty Center, Los Angeles – US

getty

Nói chung là cứ hễ bị stress vi bận rộn là tự nhiên… hứng lên blog. Hic. Lẽ ra lo ngồi làm việc, nhưng không tập trung được. Thui post cái này xong rùi tui đi học. Tuần sau spring Break. Nói chung là hy vọng không vô blog cho đến hết Spring Break. Tốn thì giờ quá thể, mà bài tập thì nhiều pà cố.

Mấy hình dưới đây chụp ở Getty Center. Nói chung cái chỗ bảo tàng này nó rất đẹp mà nó còn miễn phí nên hồi xưa cuối tuần rảnh rỗi là vác balo và khăn trải lên đây nằm ngủ.
















Advertisements
Posted by: phanxine | March 4, 2009

Hong Sang Soo

Hong Sang Soo là một đạo diễn làm phim nghệ thuật của Hàn Quốc. Ông này và Kim Ki Duk có điểm giống nhau là làm phim rất lẹ, diễn viên thì cứ chừng đó người đóng tới đóng lui, phim kinh phí thấp, quay gọn lẹ, chiếu ở Hàn Quốc chả ma nào xem, đem đi thi quốc tế là chủ yếu.

Có điều Hong Sang Soo và Kim Ki Duk khác nhau về phong cách. Kim Ki Duk làm phim kiểu quái đản, bệnh hoạn, thiệt là khác người xong rồi dặm hai ba câu triết lý vào. Kiểu phim rất là trường phái ấn tượng. Trong khi đó Hong Sang Soo là phim kiểu rất là ‘nhát cắt cuộc đời’, xem phim mà chẳng đoán ra chuyện gì sẽ xảy ra, hết phim rồi cũng chẳng biết vì sao lại hết, kiểu trường phái tả thực.

Ông này có các phim Turning Gate, Woman is the future of man, Tale of Cinema và Woman on the beach. Trong đó, Woman is the future of man và Tale od Cinema được tranh giải Cành cọ vàng của Cannes – trong khi Kim Ki Duk chưa có vinh dự này nhé. Hôm cuối tuần rồi, trường chiếu liền tù tì 3 phim của ổng là Turning Gate, Tale of Cinema và Woman on the beach.

Nhìn chung phim của ông này chậm rề rà y chang phim Việt Nam. Nếu diễn viên mà nói tiếng Việt thì tui nói đây là phim Việt Nam chính gốc luôn chứ chả phải chơi. Màu sắc phim cũng giống nữa. Thế nhưng thoại của phim rất dí dỏm. Trong ba phim thì tui cho rằng Turning Gate là phim thú vị nhất, Woman on the beach là phim đỡ buồn ngủ nhất. Phong cách dựng phim của Hong Sang Soo khá thú vị: mỗi một phân đoạn là một cảnh quay – long take, không có chuyện toàn – trung – cận ở đây. Các diễn viên vì thế tha hồ có đất để thể hiện diễn biến tâm lý của nhân vật. Thú vị hơn là mỗi phân đoạn luôn có những đột biến tâm lý khiến nhân vật thay đổi chuyển biến tâm lý, nên càng thấy diễn viên diễn giỏi và khiến người xem tin hơn vào nhân vật. Phim nào cũng có cảnh làm tình rất là hùng hục, đó điều quay giống nhau – thì có mỗi một góc quay kiểu đó để che tới che lui không cho nhìn thấy gì đó mà. Sau khi làm tình thì chàng trai bảo ‘hay giờ mình tự sát đi, chết với nhau, vô tư lự’…Cảnh này cũng long take cho nên các nhân vật vừa phải XXX mà vẫn phải diễn xuất, rất là đáng nể!!! Ba phim đều có những chi tiết cài đặt rất bâng quơ, lúc xem ban đầu chả hiểu tại sao nhét cái cảnh đó vô làm gì, đến đoạn sau thì mới ‘àh, thì ra là thế’. Hong Sang Soo có vẻ như rất xem thường phụ nữ, hoặc giả rất coi trọng đàn ông, hoặc giả bị ám ảnh tình dục. Cả ba bộ phim, đàn bà đều thèm muốn xác thịt, hoặc tỏ vẻ không thèm nhưng rồi cũng không cưỡng nổi, mặc kệ bạn trai, mặc kệ chồng, mặc kệ bạn bè, quan hệ với người đàn ông vừa quen, rồi đều bị đám đàn ông hất hủi nhưng sau đó vẫn sẵn sàng ngủ lại nếu người đàn ông ấy trở lại.

Trong Turning Gate có một câu rất thú vị. Phim kể về một anh diễn viên đóng phim thất bại, nên hãng phim không thèm xài anh ta nữa. Anh này buồn tình về quê của một người bạn lâu ngày không gặp mà bỗng dưng một hôm xỉn lên gọi điện rủ anh ấy về quê vì có cô bạn nào đó xem phim và hâm mộ anh ta. Anh này về chơi với bạn, đi tham quan cái Turning Gate nhưng lại không tới nơi, rồi ngủ ngáy này nọ, rồi bỏ về Seoul, trên đường gặp một cô gái thú vị, rồi anh này không về nữa mà mò theo cô kia v.v…. Câu thú vị trong phim là ‘Làm người tuy khó lắm, nhưng đừng vì thế mà để mình trở thành quái vật’ – là câu của đạo diễn nói trước khi anh diễn viên này bỏ đi trong cơn giận dữ. Anh này đem câu này truyền tụng khắp nơi sau đó, thấy nó hài gì đâu.

Còn trong Woman on the beach thì có một đoạn đối thoại làm tui nghĩ tới đàn ông Việt Nam. Phim kể về một ông đạo diễn Kim đi ra biển viết kịch bản, đi cùng là người bạn Chang Wook và cô bạn gái Moonsuk. Chang Wook thì rất tốt với đạo diễn Kim, còn Moonsuk thì hâm mộ Kim. Trong tối đầu tiên, họ ngồi với nhau, rồi tán dóc, nó đại loại thế này (cái này viết bên blog của Linh, giờ copy qua đây lại)

Đạo diễn Kim: hồi đó cô sang Đức à? Cô có quen mấy thằng nước ngoài không?
Moonsuk: Tôi có nên nói không?
Changwook (bạn trai của Moonsuk): Em ko cần nói. Tôi không muốn biết những chuyện đó.
Đạo diễn Kim: Cô quen mấy thằng?
Moonsuk: hai ba thằng gì đó
Changwook (hét lên): đã bảo là không nói mà
Đạo diễn Kim: hay thật. Cái đám con gái Hàn Quốc xấu hoắc sang Đức, thế là lại được cái bọn tây nó mê. Vì bọn đó nó thích kiểu gái phương Đông. Mà cái đám đàn bà đó thì có đủ thứ fantasy về bọn Tây đó. Hừm…Cứ nghĩ tới cái cock size của bọn chúng. Mẹ nó.
Moonsuk: này?
Đạo diễn Kim: Tôi không có ý nói cô. nhưng mà tức quá. Cái đám con gái Hàn Quốc chẳng ra gì ở Hàn Quốc bỗng trở thành hàng quý hiếm cao sang ở Tây. Mẹ chúng nó. Gái Hàn Quốc là phải cho đàn ông Hàn Quốc…
Moonsuk: Anh cuối cùng cũng chỉ là một thằng đàn ông Hàn Quốc
Đạo diễn Kim: hả?
Moonsuk: không, ý tôi là anh đúng là đàn ông, kiểu đàn ông Hàn Quốc chính hiệu…

Có chụp được vài tấm của ông đạo diễn. Định phỏng vấn mà ổng nói tiếng Anh ẹ quá nên thôi. Ông này ngoài đời giống phim của ông, từ tốn, chậm rãi…

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Ghost Rider (2007)

ghost1

Nói chung là hôm nay đi xem, ra rạp chả thấy có phim gì đáng để xem hết nên cuối cùng quyết định xem cái Ghost Rider của bạn Nicolas Cage.

Thiệt tình là không hiểu sao thấy mặt bạn Nicolas Cage là biết 90% phim sẽ dở. Bạn này có một cái mặt chán đời từ hồi Leaving Las Vegas. Đóng cái phim đó làm mặt chán đời thì còn được, chứ sau này thấy cái mặt này hoài phát mệt. Bạn này đóng phim hành động thì ngoại trư cái Con Air là xem ra hồn, còn lại chịu không thấu cái sự đầu gấu như con châu chấu của bạn. Bạn đóng The Rock không hay, nhưng mà nhờ có Sean Connery và Ed Harris mà phim đó nói chung là xuất sắc. Còn dạo này, bạn đóng Matchstickmen cũng chán phèo (phim thì cũng khá), đóng WTC thì chán bỏ xừ, Lord of war thì khỏi nói, đúng thiệt là chán quá.

Nói thêm là bạn này hồi xưa xuất thân từ diễn viên hài. Bạn đóng Rasing Arizona xem dzui pà cố. Honeymoon in Vegas cũng dzui….

Cuối cùng, phim Ghost Rider mới đây của bạn gom đủ hết: phim thể loại hành động, nhưng bạn đem cái mặt sầu thảm của phim bi cho vô, xem thì thấy nó hài chịu không thấu!!!

Phim này kể về bạn này tên là John Blaze, bạn ấy có ông cha làm nghề phóng xe môtor mạo hiểm, hai cha con làm trong rạp xiếc, xong rồi ba của bạn hút thuốc nhiều quá – hình như hút Marboro thì phải – cho nên bị ung thư. Nói chung phim này nên chiếu nhân dịp ngày thế giới không hút thuốc để cho thấy tác hại của việc hút thuốc lá. Ba của bạn hút thuốc nên bị ung thư sắp chết, trong khi bạn thì tí tở với một em gái xinh đẹp dễ thương rùi còn định bỏ trốn đi với em này. Biết được ba sắp chết, bạn buồn quá đi… lau xe. Trong khi lau xe thì có bạn Sa tăng đến kiu bạn ‘Tao có cái deal này hời nè, tao cứu ba mày khỏi ung thư, mày ký hợp đồng là ghost rider bán linh hồn cho tao nhe’. Ba của bạn John hết bệnh thiệt, nhưng mà sau đó cũng chết, còn bạn John thì xem như đã bán linh hồn cho quỷ, không thèm đi với em người yêu. Nói thêm là em người yêu hồi trẻ đẹp thiệt đẹp, nhìn đáng yêu, bạn John hồi trẻ cũng đẹp trai hiền lành đáng yêu. thật thê thảm, thời gian đã biến hai anh chị dễ thương đáng yêu đó thành Nicolas Cage và Eva Mendes! Tuy đã già, nhưng khi gặp lại nhau, bạn Jhn vẫn nhí nhảnh như thời 17 tuổi!

Sau đó bạn John này bị biến thành Ghost Rider, xong bạn đánh lộn với một đám quỷ Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ gì đó (thiệt ra chỉ có bạn Thuỷ Thổ với bạn Khí thôi). Mấy bạn kia thấy cũng ghê lắm, nhưng bạn Ghost Rider chỉ cần búng tay là chết ngắc hết. Nhưng liệu Ghost Rider có chiến thắng được con trai của quỷ sa tăng và thằng cha của nó? Câu trả lời dành cho ai đã xem phim (giả bộ viết cho nó giống viết báo).

Hết phim.

Àh, có thêm bạn Ghost Rider già cưỡi ngựa chạy tới chạy lui nữa. Chả bíet cho bạn này vô làm gì, nhưng nói chung là có cảnh đó cũng cool.

Thêm nữa, bạn Ghost Rider tuy là bị kẻ xấu khống chế, nhưng bạn không thể là kẻ xấu, cho nên bạn cố gắng làm người tốt, bạn nói ‘Mấy anh là cảnh sát tốt, tui mún giúp mí anh’, tui xem xúc động quá trời, thật là nghĩa hiệp! Nói chung bạn chỉ giết người xấu, không giết người tốt. Dzui nhất là có một em ‘nữ rocker’ mập ú được bạn í cứu, xem thì biết!

Tóm lại phim này xem cười quá trời. Nicolas Cage đóng phim hài vẫn dzui như ngày nào!

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Cái nết đánh chết cái đẹp

 cainet

Một vụ án mạng mà hung thủ được cổ vũ nhiệt tình: Em Nết đã đánh chết em Đẹp!!! Không thấy miêu tả rõ hung khí. Có thể em Nết lao vào cấu xé bằng móng. Như thế gọi là Cái Nết cấu chết cái đẹp. Thế thì có thể em Nết dùng dây nịt quật chết em Đẹp như trong Hoàng Kim Giáp ông vua dạy thằng con trai út bằng cách rút dây nịt ra đánh nó chết tươi, máu tung toé khắp nơi. Cũng không phải, vì thế thì gọi là Cái Nết quất chết cái Đẹp. Vậy hẳn dùng gậy, em Nết dùng gậy đập vào đầu em Đẹp. Cũng có thể em Nết dùng tay không mà đánh em Đẹp nhừ từ đến chết.

Nói cách nào đi nữa, em Nết đã đánh chết em Đẹp!

Tui chả hiểu sao em Nết phải đánh chết em Đẹp? Chả lẽ hai em không sống với nhau được à? Cứ hễ em có Nết thì em không thể Đẹp? Cái Đẹp có tội tình gì? Phải, cái Đẹp có tội tình gì?

Đẹp ở Việt Nam giống như một cái tội vậy. Đẹp thôi chưa đủ, phải có ý nghĩa, phải có nội dung. Trong trường dạy toán lý hoá cho nó có nội dung, nhưng môn để làm đẹp con người như Văn Thể Mỹ, như âm nhạc, hội hoạ, thì bị bỏ mặc. Sự cảm nhận về cái đẹp của một thế hệ bị lệch lạc bởi người ta không dạy đúng cách cảm nhận về cái đẹp. Đi ra đường, thấy những tấm bích chương vẽ mặt người như quái thai thật xấu xí, ngày ngày nhìn những tranh vẽ xấu, hình ảnh xấu, toà nhà xấu, dần dàn khái niệm về cái đẹp bị tiêu chuẩn hoá bởi những cái xấu. Tôi nhớ có lần đi ngoài trung tâm Sái Gòn, thấy tấm pano tuyên truyền đội mũ bảo hiểm, vẽ hai cha con đội mũ bảo hiểm, nét vẽ lẫn tô màu như con nít vẽ, mà thà như con nít vẽ nó còn sự ngây thơ trong sáng, ngô nghê đáng yêu, đàng này nó còn không được thế. Mảng màu nguệch ngoạc, bố cục nặng nề, nhìn hai cha con trông như bị ‘đao’ (xin lỗi những người bị ‘đao’), xấu xí khủng khiếp. Trong khi hồi xưa, tui nghe kể rằng cái quảng cáo nước giặt gì đó có những thiên thần tí hon giữ cho áo thơm lâu, đài truyền hình bảo ‘Nhìn mấy đứa đầu to này như nạn nhân chất độc màu da cam’, thế là không cho phát sóng cả một thời gian (!!?) Sự nhìn nhận thẩm mỹ lệch lạc như vậy, không trách gì phim Việt Nam phải tệ hại mới đáp ứg nổi nhu cầu thưởng ngoạn văn hoá của số đông đại chúng, cũng như âm nhạc của mấy anh Kiếp Đỏ Đen với Khi Người Đàn ông khóc thắng đậm.

Cái đẹp có tội tình gì? Đánh chết nó rồi, chỉ còn cái Nết ở lại cùng cái Xấu!

(nhắn bạn nào mới vô blog: tui sống ở Việt Nam 26 năm và tui đã nghĩ thế này từ thời tui ở Việt Nam, chẳng cần phải ra nước ngoài thì mới thông minh hơn để thấy mấy chuyện này, dù là ra nước ngoài thì mở mang đầu óc hơn. Dân gian ông bà có dạy Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Ai muốn đi thì đi, chứ có ai bắt nằm nhà đâu để rồi nói mấy người đi thế này thế nọ?)

Kỳ sau: Phải chăng tui đang ‘Trong đầm gì đẹp bằng sen’?

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Trèo cao té đau

climb

Ở Việt Nam, thầy cô dạy gì trò nghe nấy. Không ai có quyền có ý kiến khác, đặc biệt là môn văn. Hệ quả của nó thì thôi, chẳng nói thêm làm gì cho mệt với buồn lòng.

Giờ tui mở ra mục ThinkDifferent này cho vui. Trường dạy sao kệ trường, ở đây tui nghĩ khác

TRÈO CAO TÉ ĐAU

Dân gian ta có câu này. Ý bảo, kẻ nào mơ mộng hão huyền ắt sẽ phải trả giá. Đáng đời những kẻ thích trèo cao, không biết lượng sức mình. Răn dạy: đừng treo cao, ngồi dưới đất thì khỏi sợ té đau

Tui chả biết nữa. Tui thấy câu này phản ánh một phần tính cách của người Việt: an phận thủ thường. Không dám mơ xa, không dám mơ cao. Chẳng hạn một em người mẫu mơ ước (chỉ mới mơ thôi) là em sẽ có ngày sang Hollywood, thì ôi thôi dư luận xum vô chửi em nát nước. Thiếu tham vọng, nên ở mình cái gì cũng dở dở ương ương. Trèo cao thì té đau, đúng thiệt. Nhưng nếu không trèo cao thì không lẽ cứu thấp lè tè, ngước cổ lên nhìn thiên hạ? Tui thà có thể bị té đau mà một lần trong đời được ở trên cao, còn hơn cả đời tui ngó mông thiên hạ trên đầu mình. Cái câu Trèo cao té đau này, ở thời buổi này, mà vẫn dùng để khuyên các em học sinh ‘vì sẽ té đau nên các em đừng trèo nữa’ thì chả mấy chốc, các em cứ đi ăn cắp hoa với giật con heo đất hết, vì như thế nhân cách của các em đâu có phải trèo cao – nó nằm thấp lè tè dưới đất!

Trèo cao té đau khác với Tui nói tui sẽ trèo cao. Khác là vì cũng có nhiều đồng chí tuyên bố ‘tui sẽ trèo cao’, tui sẽ tấn công MTV châu Á, sẽ làm phim dự Oscar, nhưng tuyên bố chứ không có trèo, làm người ta tưởng đồng chí ở trên cao (mà thiệt ra đồng chí ngồi dưới gốc) mà đồng chí cũng chả bị té đau.

Nói chung cũng chả hiểu mình đang viết cái gì, nên thôi, tạm dừng ở đây. Kỳ sau nói tiếp. Kỳ sau là cái câu quen thuộc mà hình như có viết trên đây một lần: Một vụ án mạng mà hung thủ được cổ vũ nhiệt tình.

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Lives of the others (2006)

live

Bài viết tiết lộ nội dung và đoạn kết)

 

Trong nhiều năm trở lại đây, những bộ phim thành công của Đức mà tôi xem đều dính dáng đến sự sụp đổ của bức tường Berlin, về sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa và niềm thương nhớ những giá trị cao đẹp của Đông Đức trong thời xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn như Goodbye Lenin, câu chuyện về một thanh niên Đông Đức vì sợ mẹ của mình sẽ lên cơn đau tim nếu bà biết được rằng bức tường Berlin đã sụp đổ trong lúc bà bị hôn mê trong bệnh viện, đã tìm mọi cách xây dựng nên một ‘xã hội xã hội chủ nghĩa’ xung quanh bà để che dấu sự thật. Chẳng hạn như Edukators về những thanh niên Đức của ngày hôm nay vẫn sống theo lý tưởng xã hội chủa nghĩa, đòi hỏi sự bình đẳng công bằng trong xã hội, ‘giáo dục’ bọn nhà giàu bằng cách đột nhập vào nhà họ và để lại lời nhắn ‘Những ngày êm ả sung sướng đã qua’, để rồi vô tình buộc phải bắt cóc một tay tư bản kếch sù. Hành trình của họ cùng tên tư bản dẫn đến những cuộc đối thoại xoay quanh sự công bằng trong xã hội, khi mà tên tư bản nhớ lại thời trẻ đầy lý tưởng của mình cũng như những người thanh niên hôm nay, nhưng ‘dòng đời đưa đẩy’ đã biến ông ta thành kẻ ‘biến chất’ chỉ còn biết có tiền.

Cuộc đời của người khác cũng đặt bối cảnh xảy ra ở Đông Đức kéo dài từ trước khi bức tường Berlin sụp đổ cho đến sau sự kiện này vài năm. Câu chuyện bắt đầu vào năm 1984, Ở thời kỳ xã hội chủ nghĩa, chính quyền Đông Đức muốn giữ đất nước mình khỏi sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là bọn đế quốc tư bản (cho phép tôi sử dụng những từ ngữ mà tôi đã được dạy từ hồi còn ngồi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa cách đây hơn 15 năm). Chính vì thế, họ theo dõi tất cả những kẻ tình nghi ủng hộ cho Tây Đức. Máy nghe lén, máy quay lén cài khắp nơi trong mọi căn nhà. Nhân viên Stasi (cảnh sát chìm của Đông Đức) ngày đêm túc trực để báo cáo lại mọi nội dung trò chuyện, mọi hành động bất thường cũng như bình thường, kể cả chuyện làm tình! Giới văn nghệ sĩ, mà như một nhân vật cao cấp trong chính quyền Đông Đức trích dẫn từ một nhà xã hội chủ nghĩa lỗi lạc mà ông ta không nhớ tên (và một nhà biên kịch bị xem là có tư tưởng phản động đã nhắc lại đó là lời của Stalin), được gọi là ‘những kỹ sư tâm hồn’. Giới văn nghệ sỹ, ở mọi thời, mọi nơi, luôn là những ‘chiến sĩ chiến đấu bằng ngòi bút’. Họ không thể thay đổi vận mệnh đất nước, nhưng ho có khả năng ạo ra sự thay đổi. CHính vì thế, giới văn nghệ sĩ thường dễ bị xem là những kẻ phản động nhất. Để triệt tiêu khả năng của họ, những kẻ được xếp vào loại người thứ 4 trong 5 loại người có tiềm năng phản động mà Stasi phân loại, không cần phải đánh đập hay tra tấn mà chỉ cần cách ly những người này với thế giới bên ngoài, không cho tiếp xúc với con người cho dù đó là cai ngục. Sau 10 tháng biệt giam thì thả ra, những người này sẽ vĩnh viễn không bao giờ viết lách hay vẽ vời gì nữa cho dù không hề bị cưỡng chế sau đó. Minh chứng của cách hành xử này là một đạo diễn sân khấu nổi tiếng của Đông Đức lúc ấy, Albert Jerska. Sau 7 năm bị cho vào danh sách đen (xin lỗi, như lời của quan chức cao cấp nọ, làm gì có danh sách đen), ông không còn làm gì, sống ẩn dật, tránh xa mọi người và tự kết liễu cuộc đời mình.

Cái chết của Albert gây chấn động mạnh với Dreymann, một trong những ‘kỹ sư tâm hồn’ nổi tiếng nhất lúc ấy. Dreymann không chỉ thành công, anh còn biết cách ‘sống’ để chiều lòng những quan chức chính quyền, quen biết nhiều tai to mặt lớn và là nhà văn còn sót lại chưa bị theo dõi. Dreymann ủng hộ cho xã hội chủ nghĩa, những vở kịch của anh luôn ca ngợi sự cao đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa và anh hầu như hoàn toàn trong sạch.

Thế nhưng, trong mắt của Gerd Wiesler, một ‘tôi tớ tận tuỵ’ của chế độ xã hội chủ nghĩa, một người có niềm đam mê mãnh liệt với việc tra khảo những tên phản động, những kẻ tìm cách trốn khỏi Đông Đức hoặc giúp đỡ người khác vượt biên sang Tây Đức, những kẻ có tư tưởng ủng hộ tư bản, Dreymann không hẳn là một kẻ hoàn toàn trong sạch. Thật sự tôi không rõ động cơ mà Gerd muốn được theo dõi nhà riêng của Dreymann. Trong cảnh lần đầu HGW (viết tắt tên của Gerd Wiesler) thấy Dreymann tại buổi diễn ra mắt vở kịch của Dreymann, động tác máy quay tạo cho tôi một cảm giác là HGW bị cuốn hút bởi Dreymann, mà trong một tích tắc tôi đã nghĩ rằng HGW có tình cảm với nhà văn này. Cấp trên của HGW thì nhắc anh rằng đừng hó hé đụng đến Dreymann vì anh ta có nhiều bạn bè cao cấp, rất đáng ngại. Thế nhưng, họ được bật đèn xanh khi mà ông bộ trưởng Bruno Hempf muốn Stasi phải tìm ra một bằng chứng nào đó cho thấy Dreymann là một tên phản động, bởi Bruno có tình ý với bạn gái của Dreymann, nữ diễn viên xinh đẹp nổi tiếng Christina-Maria. Dù Bruno, bằng thế lực và địa bị của mình, đã nhiều lần cưỡng ép Christina-Maria quan hệ tình dục với ông ta nếu muốn yên ổn ‘làm nghệ thuật’, ông ta vẫn muốn độc chiếm cô.

HGW bắt đầu theo dõi cuộc đời của Dreymann.

Nghệ thuật là một thứ quyến rũ đáng sợ. Nó làm nhụt chí cách mạng. Như Dreymann nhắc lại lời của Lênin khi Lênin nghe bản nhạc cổ điển của Beethoven, ông ta đã nói ‘nếu cứ nghe âm nhạc này, tôi sẽ không thể nào làm cách mạng’, bởi nó quá đẹp, quá quyến rũ, quá say đắm. Khi Dreymann nghe tin Jerska tự sát, anh ngồi bên cây đàn piano để đánh bản Bản tình ca dành cho người tốt mà Jerska tặng anh trong dêm sinh nhật lần thứ 40. ‘Anh tin rằng nếu ai thật sự nghe bản nhạc này, thật sự nghe và hiểu bản nhạc này, làm sao họ có thể là người xấu được’ – Dreymann nói.

HWG đã nghe bản nhạc ấy qua máy nghe lén… Gương mặt của HWG không lạnh lùng vô nhân tính như mọi khi. Đâu đó trong tâm trí HWG, một con người khác ngủ yên bao lâu bỗng bị đánh thức…

Sau cái chết của Jerska, Dreymann hiểu rằng anh không thể cứ mãi là một nhà văn chỉ biết làm chiều lòng chính quyền. Anh phải đứng về phía con người, phải có tiếng nói. Anh bắt đầu viết một bài báo vê vấn nạn tự sát ở Đông Đức để đăng trên tờ Spielgen của Tây Đức. Stasi truy tìm tác giả của bài báo. Vì tất cả mọi loại máy đánh chữ, mọi loại mực đều để lại dấu tích để Stasi có thể truy ra nguồn gốc của bản thảo do ai viết, Dreymann đã sử dung một máy đánh chữ ‘bất hợp pháp’ của người bạn anh lén đem sang. Anh phải cất giấu máy đánh chữ đó trong nhà.

Bruno đề nghị Stasi khám xét nhà của Dreymann. Christa-Maria bị bắt để tra khảo. Và số phận Dreymann, vì vẫn nghĩ rằng nhà mình là nơi an toàn nhất khi không bị nghe lén, đã bị đẩy đến sự nguy hiểm…

Điều mà tôi thích nhất ở bộ phim này là sự tiết chế cảm xúc của câu chuyện. Không quá bi lụy, không quá cực hữu, không tạo ra những con người xấu xa tồi tệ hay tốt đẹp hoàn toàn. Các nhân vật đều có nhiều tầng lớp nội tâm, nhưng lại không quá phức tạp. Cũng dễ dàng thấy đâu đó những con người này trong cuộc sống. Diễn viên gần như ‘ăn’ vào nhân vật, đặc biệt là diễn viên thủ vai HGW. Gương mặt lạnh như tiền, không sức sống của ông khiến người ta cảm thấy sợ hãi con người này, nhưng rồi nhanh chóng mất đi cảm giác ấy khi ông ta nở nụ cười, khi đôi mắt ông long lanh như Christa-Maria trong quán rượu, khi ông lầm lũi đi trên đường phố Đông Đức hai năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, mà ông lúc này chỉ là một nhân viên bưu điện. Nếu như đạo diễn không ‘tiết chế cảm xúc’ thì có khi tôi cũng chảy nước mắt ở giây cuối cùng của bộ phim.

Cũng nói thêm rằng, nhân vật chính của phim không phải là Greymann mà là HGW, về hành trình thay đổi nhận thức của ông, từ một người hầu như không có chút tình cảm, không cảm xúc, không đời sống, không khiếu hài hước, trở thành một con người biết yêu, biết hạnh phúc, biết đau khổ.

Cuộc đời người khác đoạt 8 giải thưởng điện ảnh của Đức, được đề cử cho giải Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc tại Quả cầu vàng và Oscar, dù tác giả của phim Florian Henckel von Donnersmarck là người lần đầu tiên viết kịch bản và làm đạo diễn.

Das Leben der Anderen (2006) – The Lives of Others

Kịch bản và đạo diễn: Florian Henckel von Donnersmarck

Diễn viên: Ulrich Mühe (Hauptmann Gerd Wiesler), Martina Gedeck (Christa-Maria Sieland), Sebastian Koch (Georg Dreyman)

I hope this movie win Oscar for Best Foreign Language 2007. So amazing. I prefer this movie to Pan’s Labyrinth. Review later.

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Cate Blanchett

cateblanchett

Trong mẩu phim ngắn của Jim Jarmusch thực hiện năm 2003 trong chùm phim ngắn Coffee and Cigarettes, Cate Blanchett thủ vai Cate, một ngôi sao điện ảnh đang thời phất lên. Trong phim The Aviator của đạo diễn Martin Scorsese thực hiện năm 2004, Cate vào vai Katharine Hepburn, một huyền thoại của Hollyood với 4 giải Oscar. Không đẹp lộng lẫy, quyến rũ, hay gợi cảm, nhưng Cate Blanchett có tố chất của một nữ diễn viên nổi tiếng. Ánh mắt, nét mặt của cô toát nên thần thái ấy và khiến khán giả tin cô thực sự là một huyền thoại của Hollywood.

Đóng phim khá đều đặn, chọn phim khá kỹ càng, không thích tham gia những phim giải trí (ngoại trừ Chúa tể những chiếc nhẫn, vì cô tò mò muốn được… đeo những cặp tai tiên), Cate Blanchett là một trong những nữ diễn viên thông minh, hài hước và sắc sảo hiện nay của Hollywood. Từng vuột mất giải Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc về tay Gwyneth Paltrow trong một vai mà ai cũng tin rằng cô là người chiến thắng – Nữ hoàng Elizabeth đệ I – Cate Blanchett được ‘bù đắp’ xứng đáng với giải Oscar cho vai Katharine Hepburn trong phim The Aviator. Năm 2006, Cate xuất hiện trong ba bộ phim được giới phê bình đánh giá cao: Babel (vừa đoạt giải Quả cầu vàng Phim tâm lý xuất sắc nhất), The Good GermanNotes on a scandal (đem đến cho cô đề cử Quả cầu vàng Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất).

Trong The Good German của đạo diễn Steven Soderbergh, gò má cao và mái tóc uốn nhẹ của Cate Blanchett hoà lẫn với tông màu đen trắng của bộ phim khiến người xem liên tưởng đến những bộ phim huyền thoại của Hollywood như Casablanca, mà Cate như một hiện thân khác của Lauren Bacall hay Greta Garbo. Trong Babel, dù chỉ xuất hiện trong một vai nhỏ, người vợ bị đạn lạc của Brad Pitt, Cate khiến người xem đi từ cảm xúc chia sẻ với nỗi cô đơn của một người phụ nữ Mỹ theo chồng đến châu Phi sang sự lo lắng, hồi hộp xen lẫn cảm thương xúc động khi cô gặp tai nạn bất ngờ. Không ai ngờ Cate và Brad lại diễn ăn ý đến thế, nhất là cảnh Brad đặt chiếc xô dưới váy để người vợ của mình có thể tiểu tiện, tình nghĩa mộc mạc đến lạ thường. Trong khi đó, vai cô giáo quyến rũ một học trò nam nhỏ tuổi và bị một giáo viên lớn tuổi khác khống chế trong Notes on a scandal lại đầy những dằn xé nội tâm mạnh mẽ.

Thành công ở Hollywood, nhưng Cate vẫn muốn tránh xa Hollywood. “Tôi là một người Úc” Cate luôn nhấn mạnh điều ấy. cô cùng chồng, nhà biên kịch người Úc Andrew Upton, cùng hai cậu con trai sống ở Anh, bên bờ biển Nam, nơi có rất nhiều người Úc sinh sống. “Tôi chỉ cảm thấy mình mới đặt được một ngón chân vào Hollywood, và tôi thích điều đó”. Chỉ một ngón chân, nhưng Cate đã có dịp cộng tác với nhiều đạo diễn bậc thầy của Hollwyood như Martin Scorsese, Steven Soderbergh, Jim Jarmusch và Sam Raimi. Năm sau, cô sẽ quay lại với vai Nữ hoàng Elizabeth đệ I với phần 2 của bộ phim mang tên The Golden Age, cùng một phim về cuộc đời Bob Dylan do đạo diễn Todd Haynes thực hiện, I’m Not There. Năm 2008, hai vợ chồng Cate sẽ bắt đầu hợp đồng ba năm với công ty Sân khấu Sydney với vai trò đồng chỉ đạo nghệ thuật.

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Con mẹ bán chewingum

Có một chuyện cười rất ‘kinh điển’ như sau:

Có một con mẹ bán chewin-gum trước cửa rạp chiếu phim. khán giả đi xem phim luôn được con mẹ này mời mọc. Ai mà không mua, con mẹ này phán ‘Chòi oi, phim này nè, thằng giết người chính là thằng làm vườn’. Nghe xong, bà con vô rạp xem dĩ nhiên cụt hứng vì chả còn gì bất ngờ nữa hết.

Có một chuyện có thiệt rất nổi tiếng ở Hàn Quốc như sau.

Hồi năm 1999, khi phim Sixth Sence công chiếu ở Hàn Quốc và rất ăn khách, có một thằng cha bị điên đứng trước cửa rạp, troong khi bà con đang xếp hàng háo hức vô xem, thằng cha này nhảy xổ ra là hét lên ‘Bruce Willis chính là con ma! Bruce Willis chết từ đầu phim’. Bà con phát điên lên vì cái phim chỉ hay nhất là cái màn bất ngờ đó.

Có rất nhiều chuyện có thiệt trên báo chí Việt Nam, rằng những con mẹ bán chewing-gum cùng như thằng điên hét toáng trước cửa rạp kể trên không chỉ đứng trước cửa rạp mà còn trở thành phóng viên, nhà báo và sung sướng hạnh phúc khi có được cái quyền tiết lộ hết những sự bất ngờ ở đoạn kết của các bộ phim hay vở kịch đang trình chiếu – trình diễn.

Con mẹ bán chewing-gum ‘kinh điển’ cùng làm chỉ lắm cụt hứng được dăm ba khách – mà chỉ là trả thù mấy người khách không mua hàng. Còn những ‘con mẹ bán chewing-gum thời đại’ thì có thể làm cụt hứng cả triệu người, chỉ để khoe ‘Tui xem vở này rùi, và tui biết hết’!

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Quote of the day – David Borwell

Film studies, it seems to me, is an effort to understand films and the processes through which they’re made and consumed – David Borwell

Posted by: phanxine | March 4, 2009

Night at the Museum (2006)

night

Với một đoạn quảng cáo ấn tượng của phim Đêm ở bảo tàng với đám quái thú khổng lồ chạy tung tăng khắp nơi giữa New York, người xem dễ liên tưởng đến bộ phim Jumaji cách đây vài năm của Robin Williams. Thế nhưng, Đêm ở bảo tàng không rùng rợn như Jumaji mà nhẹ nhàng, hài hước và xen lẫn chút xúc động.

Đêm ở bảo tàng ra mắt trong dịp Giáng Sinh và đối tượng khán giả chủ yếu là thiếu nhi (dĩ nhiên, cùng với phụ huynh), vì thế nó gom hết tất cả những gì con nít yêu thích: bộ khung xương khủng long quẫy đuôi rối rít như … con chó, voi mamút đi lang thang giữa bảo tàng, quân La Mã đánh nhau với cao bồi Viễn Tây, tượng đá đầu người mê nhai kẹo ca su và thổi bong bóng! Ben Stiller, lần đầu tiên đóng phim dành cho thiếu nhi (trước đó, anh cũng từng lồng tiếng cho phim hoạt hình Madagascar), vào vai Larry Daley, một người đàn ông thất nghiệp, đã ly dị vợ và đang phải cố gắng giành lại niềm tin từ đứa con trai nhỏ của mình. Larry nhận lời chân gác đêm tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên ở New York, bất chấp rằng công việc này từng có bao nhiêu người nhận làm sau một đêm rồi… bỏ việc ngay sáng hôm sau. Gặp ba người bảo vệ già của bảo tàng để bàn giao công việc, Larry hoàn toàn không hiểu được ánh mắt kỳ lạ của họ, những lời khuyên kỳ lạ của họ cùng cuốn sổ cẩm nang ‘cứ mở ra và làm theo từng bước nếu có sự cố xảy ra là ổn”. Ngay khi đồng hồ điểm nửa đêm, ‘sự cố’ xảy ra: tất cả mọi hình sáp trong bảo tàng bỗng hồi sinh nhờ vào phép lạ của một phiến đá Ai Cập cổ đại. Larry kinh hoàng khi thấy bộ xương khủng long đi… uống nước và rượt đuổi anh, đám người Mông Cổ với búa rìu trong tay rượt đuổi anh, đám cao bồi viễn Tây tí hon bắt trói anh và con khỉ Dexter ‘đáng yêu’ thì thó mất chìa khoá của anh và xé toạc cuốn cẩm nang hướng dẫn cách thoát khỏi tình cảnh này… May mắn thay, vị tổng thống thứ 26 của nước Mỹ, Teddy Roosevelt (Robin Williams thủ vai) đã giúp anh thu xếp mọi việc trước khi mặt trời mọc. Lời nguyền cổ đại phán rằng, nếu bất kỳ sinh vật nào trong bảo tàng này rời khỏi bảo tàng và không quay lại kịp trước khi mặt trời mọc, chúng sẽ hoá thành tro bụi.

Khi bình mình ló dạng, mọi thứ trở lại như cũ. Larry quá sợ hãi để tiếp tục công việc này, nhưng anh lại không thể bỏ công việc này bởi không muốn con trai anh nghĩ rằng cha mình là kẻ vô công rỗi nghề. Larry hiểu rằng, nếu muốn tồn tại ở bảo tàng này, anh phải hiểu được lịch sử, những câu chuyện về những nhân vật được trưng bày bên trong bảo tàng này. Anh tự tin trở lại bảo tàng vào đêm thứ hai, đem bật lửa tặng cho đám người nguyên thuỷ, mang kẹo cao su cho bức tượng đầu người của đảo Easter, khuyên nhủ hai phe lính Nam – Bắc trong cuộc nội chiến đừng bắn nhau nữa vì sự thật thì quân Nam Mỹ đã thua cuộc, dàn xếp cuộc cãi vã giữa anh chàng cao bồi Mỹ (Owen Wilson đóng) và tướng lĩnh La Mã (Steve Coogan đóng)… Mọi chuyện không hề đơn giản như Larry nghĩ: một người nguyên thuỷ rời khỏi viện bảo tàng và hoá thành tro ngay trước mắt anh. Anh có nguy cơ bị mất việc làm. Đứa con trai bị tổn thương khi chứng kiến cha mình bị đuổi việc. Larry quyết quay trở lại bảo tàng lần nữa để chứng minh cho con trai của anh phép màu lạ kỳ trong bảo tàng kỳ lạ này. Điều anh không ngờ đến là có kẻ xấu đang tìm cách phá hoại bảo tàng, và những phép màu không xảy ra trong đêm thứ ba, đêm mà anh mang đứa con trai đến để vui đùa với bộ xương khủng long và làm quen vị tổng thống thứ 26 của nước Mỹ…

Khác với một số phim có cùng đề tài, Đêm ở bảo tàng không ‘thực tế hoá’ những giấc mơ bay bổng. Phép lạ trong bảo tàng không phải là một giấc mơ thoáng qua để dạy cho Larry một bài học. Đạo diễn Shawn Levy (khá thành công với thể loại phim hài như Cheaper by the Dozen, Pink Panther) đem đến cho Đêm ở bảo tàng không khí vui nhộn, tươi tắn và bay bổng với nhiều tình tiết thêm thắt vào kịch bản, vốn được đã chuyển thể cuốn sách dài 32 trang của Milan Trenc. Mặc dù câu chuyện khá rời rạc, thiếu những khoảng lặng cần thiết, thiếu các điểm nhấn tình cảm giữa cha con Larry, hay Larry và cô bạn đồng nghiệp ở bảo tàng, hay tổng thống Roosevelt và cô gái dẫn đường da đỏ, nhưng Đêm ở bảo tàng là minh chứng cụ thể cho triết lý của Hollywood hiện nay: đường dây câu chuyện không quan trọng, miễn sao có đủ các pha hấp dẫn để ‘bày trò’ phô diễn kỹ xảo và tấu hài trên phim là ăn khách. Thực tế, Đêm ở bảo tàng không chỉ thu về gần 180 triệu đôla sau một tháng công chiếu, mà còn đứng đầu bảng doanh thu ba tuần liên tục trong và sau mùa phim Giáng Sinh.

Night at the Museum (2006)
Đạo diễn: Shawn Levy

Kịch bản: Ben Garant, Thomas Lennon

Diễn viên: Ben Stiller (Larry Daley), Robin Williams (Teddy Roosevelt), Pierfrancesco Favino (Christopher Columbus), Steve Coogan (Octavius)

MPAA: Rated PG

« Newer Posts - Older Posts »

Categories